chương 3 – lí luận về tiền công, bàn tay vô hình, khủng hoảng kinh tế

A.    Lí luận khác

Câu 1: Lí luận tiền công của W.Petty, A.Simth, D.Ricardo.

  • W.Petty:

W. Petty không định nghĩa về tiền lương mà chỉ là người nêu ra. Ông xác định tiền lương là khoản giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân.Ông cho rằng tiền lương của công nhân không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết. Nếu tiền lương nhiều thì công nhân không cần làm việc mà chỉ thích uống rượu. Nói một cách khác, muốn cho công nhân làm việc thì biện pháp là hạ thấp tiền lương xuống tối thiểu. Ông là người luận chứng đạo luật cấm tăng lương.

Quan điểm của ông về tiền lương được xem xét trong mối quan hệ với lợi nhuận với giá cả tư liệu sinh hoạt, với cung cầu về lao động. Ông cho rằng tiền lương cao thì lợi nhuận giảm và ngược lại, nếu giá cả của lúa mỳ tăng lên thì sự bần cùng của công nhân cũng tăng lên, số lượng lao động tăng lên thì tiền lương sẽ tụt xuống, như vậy, tiền lương tỉ lệ nghịch vs giá trị tư liệu sinh hoạt.

  • A.Smith:

Theo A.Smith, sản phẩm của lao động cấu thành món tiền thưởng tự nhiên cho lao động (tiền công, tiền lương) => ông đã biết đến bản chất của việc xác định tiền công.

Trong xã hội nguyên thủy, trước chủ nghĩa tư bản, toàn bộ sản phẩm thuộc về người lao động.

Trong xã hội tư bản, đất đai và tư liệu sản xuất bị chiếm hữu làm của riêng thì địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên, lợi nhuận là khoản khẩu trừ thứ 2.

Tiền công = sản phẩm của lao động – địa tô – lợi nhuận.

Ông không phủ nhận mâu thuẫn giai cấp khi chỉ ra “công nhân mà lĩnh đc càng nhiều tiền công càng tốt còn chủ thì muốn trả càng ít càng hay”.

Ông tỏ ra thông cảm với công nhân “người ta bao h cũng khó có khả năng sống bằng lao động của mình”, tán thành việc trả công cao cho công nhân “tiền công cao là hậu quả của việc tăng của cải, đồng thời cũng là nguyên nhân tăng dân số”.

A.Smith xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công trung bình là:

–        Tính chất của công việc, dễ chịu hay không.

–        Tính chất thường xuyên của công việc.

–        Mức khó khăn đắt đỏ trong việc dạy nghề.

–        Khả năng thành công.

–        Tình hình di chuyển lao động trong các ngành, địa phương.

Nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương tối thiểu:

–        Nhu cầu lao động

–        Giá cả trung bình của tư liệu tiêu dùng thiết yếu.

Nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng vận động tiền công:

–        Sự tác động của nhân khẩu

–        Quy mô tư bản

Ông đã phân biệt được một cách hợp lí tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế (giá cả bằng tiền và giá cả thực tế của công lao động).

Tuy nhiên, A.S có những hạn chế và sai lầm về lí luận tiền công như: coi tiền công là giá cả của lao động, là một phạm trù đặc trưng cho tất cả các giai đoạn phát triển kinh tế ( trong đk CNTB chỉ có thể thay đổi về lượng)

  • D.Ricardo:

D.Ricardo định giải quyết việc xác định tiền công theo quy luật giá trị. Nhưng ông vẫn theo quan điểm của A.Simth rằng tiền công là giá cả lao động, nên ông xác định tiền công dựa trên giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân. Như vậy ông còn lẫn lỗn lao động và sức lao động, nhưng vẫn xác định đúng tiền công của công nhân.

Ông ủng hộ quy luật sắt về tiền công, tiền công ở mức tối thiểu của tư liệu sinh hoạt. Ông cho rằng tiền công cao làm cho nhân khẩu tăng nhanh, dẫn đến cung lao đông lớn hơn cầu, làm cho tiền công hạ xuống, đời sống công nhân xấu đi là kết quả của tăng nhân khẩu.

Ông chủ trương phản đối sự can thiệp của nhà nước vào thị trường lao động.

Ông đã phân tích được tiền công thực tế và xđ nó như 1 phạm trù kinh tế. Ông nhấn mạnh rằng lượng  hàng hóa mà ng công nhân mua bằng tiền công, chưa quyết định địa vị xã hội của ng đó, sự quyết định tình cảm của ng công nhân phụ thuộc vào mối tương quan giữa tiền lương và lợi nhuận.

 

Câu 2: Những thành tựu và hạn chế của Trường phái cổ điển Anh trong lí luận tiền công.

  • Thành tựu:

Lí luận về tiền công của trường phái cổ điển Anh là lí luận đặt nền móng cho lí luận về vấn đề tiền công lao động trong lịch sử kinh tế.

Về cơ bản, trường phái cổ điển Anh đã biết được bản chất tiền công là thu nhập từ lao động.

Đều hiểu được đúng đắn cơ sở để xác định tiền công là giá trị tư liệu sinh hoạt.

Đã biết phân biệt tiền công thực tế và tiền công danh nghĩa, tuy chưa đầy đủ.

  • Hạn chế:

Đó là việc coi lao động là 1 hàng hóa nên coi tiền công là giá cả của lao động.

Chưa phân biệt được lao động và sức lao động.

Đã ko biết đến t/chất lịch sử của tiền công nên đã cho rằng tiền công là 1 phạm trù đặc trưng cho tất cả các giai đoạn phát triển KT,trong đk CNTB chỉ có thay đổi về lượng mà thôi.

Tuy đã thấy tiền công mâu thuẫn vs lợi nhuận nhưng do đứng trên lập trường của giai cấp tư sản nên đã cho rằng tiền công chỉ để ở mức tối thiểu để buộc công nhân phải phụ thuộc vào nhà TB.

 

Câu 3: Chứng minh rằng, A.Smith là nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế. Những học thuyết kinh tế nào kế thừa và phát huy tư tường tự do kinh tế của A.Smith. Rút ra ý nghĩa lí luận và thực tiễn của lí thuyết “bàn tay vô hình”.

Có thể nói, A.Smith là nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do mới vì ông là người đầu tiên trong lịch sử đề cập đến cơ chế tự điều tiết trong nền kinh tế và cho rằng không cần đến sự can thiệp nhà nước tới nền kinh tế vẫn có thể giải quyết hài hòa các vấn đề kinh tế. Quan điểm này được thể hiện trong lí thuyết “Bàn tay vô hình”.

  • Lí thuyết “Bàn tay vô hình”:

Điểm xuất phát trong phân tích của A.S là nhân tố con người kinh tế. Theo ông, con người kinh tế có 2 tính: tính vị kỉ và tính vị tha. Trong 2 tính này, tính vị kỉ trội hơn nên làm nảy sinh mối quan hệ trao đổi, mua bán.

Trao đổi là đặc tính vốn có của con ng, là thiên hướng phổ biến, tất yếu và vĩnh viễn của mọi xã hội. Chỉ có trao đổi thì nhu cầu của ngta mới đc thỏa mãn. “Khi trao đổi sản phẩm với nhau, con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân của mình. Mỗi ng chỉ biết tư lợi và chạy theo tư lợi. Lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp chi phối ng ta hoạt động trao đổi. Nhưng khi chạy theo tư lợi con ng kinh tế còn chịu tác động của “bàn tay vô hình”.

“Bàn tay vô hình” là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan chi phối hoạt động của con người và ông gọi đó là “trật tự tự nhiên”.

Dưới sự tác động của bàn tay vô hình, con ng kinh tế vừa chạy theo tư lợi vừa thực hiện nhiệm vụ k nằm trong dự kiến là đáp ứng nhu cầu chung của xã hội. Trong nhiều trg hợp ngta đáp ứng những nhu cầu chung xã hội còn tốt hơn lợi ích riêng dù k dự tính.

Ông chỉ ra các điều kiện cần thiết để quy luật kinh tế khách quan hoạt động là:

–        Sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hòa và trao đổi hàng hóa;

–        Nền kinh tế phải đc phát triển trên cơ sở tự do kinh tế: tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch.

A.S cho rằng cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên. Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa đc phát triển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình. Nhà nước k nên can thiệp và kinh tế, hoạt động kinh tế vốn có cuộc sống riên của nó.

Nhà nước có các chức năng sau:

–        bảo vệ quyển tư hữu của nhà tư bản;

–        đấu tranh chống thù trong giặc ngoài;

–        trừng phạt kẻ phạm pháp.

Vai trò kinh tế của nhà nước đc thực hiện khi nhiệm vụ kinh tế vượt quá sức của doanh nghiệp như xây dựng đường xá, đào sông, đắp đê, hay xây dựng các công trình kinh tế lớn…

Nói tóm lại, chủ trương của A.S là “Xã hội muốn giàu có phải phát triển theo tinh thần tự do”.

  • Sau này, trong lịch sử, có rất nhiều nhà kinh tế, rất nhiều học thuyết kinh tế ra đời kế thừa và phát huy tư tưởng tự do kinh tế của A.Smith.

Trường phái cổ điển Pháp: học thuyết về trật tự tự nhiên của Quesney.

Trường phái tân cổ điển:

–        lí thuyết cân bằng tổng quát của L.Waras.

Lý thuyết về giá cả: chủ trương phân tích thị trường tự do cạnh tranh.
Lý thuyết cân bằng mọi tổng quát: phản ánh sự phát triển tư tưởng “bàn tay vô hình” của A.S. đó là trạng thái cơ bản của cả ba tư tưởng: tư tưởng hàng hoá, tư tưởng tư bản và tư tưởng lao động nó được thực hiện thông qua dao động tự phát của cung – cầu và giá cả hàng hóa trên thị trường.

–        lí thuyết giá cả của A.Marshall: lý thuyết cung cầu và giá cả cân bằng trên thị trường tự do cạnh tranh, tự điều tiết.

Ngoài ra, chủ nghĩa tự do mới đồng thời thừa nhận bàn tay của nhà nước và bàn tay của thị trường nhưng xem trọng bàn tay thị trường nhiều hơn. Lí thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới tăng mạnh ở cộng hoà liên bang Đức dưới hình thức kinh tế tập thể xã hội , chủ nghĩa cá nhân mới ở Anh, chủ nghĩa bảo thủ mới ở Mỹ, chủ nghĩa giới hạn ở áo…. Đặc biệt ở Đức “kết hợp nguyên tắc tự do với nguyên tắc cân bằng xã hội trên tập thể”

Trường phái chính hiện đại đồng thời thừa nhận cả 2 bàn tay và xem nó như nhau, “điều hành nền kinh tế k có chính phủ hay thị trường thì cũng như định vỗ tay bằng 1 bàn tay vậy”.

  • Ý nghĩa lí luận và thực tiễn với nước ta hiện nay:

Nước ta hiện nay đã chuyển sang vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, phát triển theo định hướng XHCN, nhưng còn nhiều yếu tố sơ khai. Việc nghiên cứu lí thuyết ‘Bàn tay vô hình’ của A.Smith có ý nghĩa cung cấp 1 tri thức quan trọng về vai trò của cơ chế thị trường trong điều tiết nền kinh tế. Trong cơ chế này, mọi việc lựa chọn sản xuất và tiêu dùng của các chủ kinh tế đều đc thực diện dưới tác động của các quy luật kinh tế khách quan, theo mệnh lệnh của thị trường. Cơ chế thị trường là cơ chế điều chỉnh linh hoạt các nguồn lực trong nền kinh tế theo hướng hiệu quả, tự nó có thể tạo ra sự cân đối cung-cầu trên thị trường. Bởi vậy cần nhận thức đúng vai trò của cơ chế thị trường và có giải pháp để phát huy vai trò đó trong vận hành nền kinh tế nc ta hiện nay.

Lí thuyết ‘Bàn tay vô hình’ của A.Smith mới chỉ quan tâm đến mặt tích cực của thị trường, mà ko thấy tác động tiêu cực hay thất bại mà tự nó ko thể khắc phục đc, vì thế ông đã tuyệt đối hóa vai trò của thị trường, phủ nhận vai trò kinh tế của nhà nước. Việc nghiên cứu lí thuyết này còn có ý nghĩa cần có cái nhìn khách quan, khoa học về cơ chế thị trường. Không nên coi thị trường là 1 sự ‘hoàn hảo’ trong điều tiết nền kinh tế. Sự điều tiết của nhà nước đối vs nền kinh tế thị trường là cần thiết để ngăn ngừa,khắc phục những thất bại của thị trường, để thị trường hoạt động có hiệu quả. Tuy nhà nước ko làm thay đc thị trường nhưng nó có thể làm tăng hiệu quả của thị trường.

 

Câu 4: Lí luận về khủng hoảng kinh tế của Ricardo.

Theo Ricardo, trong nền sản xuất  TBCN, sản xuất ngày càng mở rộng phát triển thì lợi nhuận ngày càng cao nên tích lũy tư bản càng lớn.Tích lũy tư bản lớn, tái SX ngày càng mở rộng, cầu về lđộng tăng, giá cả lđộng tăng, tiền công của công nhân tăng, thu nhập của công nhân tăng, sức mua HH trên thị trường tăng, cầu về HH tăng, giá cả HH tăng, lợi nhuận tăng… làm cho nền sản xuất TBCN ko ngừng phát triển, cung luôn phù hợp vs cầu, ko có sản xuất vượt quá tiêu dùng sẽ không có khủng hoảng kinh tế .Tóm lại,CNTB ko có sản xuất thừa, ko có khủng hoảng kinh tế.

Tuy nhiên, Ricardo cũng nhìn thấy xu hướng giảm sút tỉ suất lợi nhuận là: có thể có hàng hóa nào đó SX ra quá thừa và tràn ngập thị trường, tư bản bỏ vào sản xuất hàng hóa đó sẽ ko đc bù lại. Nhưng điều này ko thể xảy ra đối vs tất cả các hàng hóa.

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s